Chào mừng quý vị đến với website của trường THPT Chu Văn Thịnh, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La!
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành
viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của
Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Tiết 1 Liên bang Nga

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Cảnh Hưng
Ngày gửi: 20h:59' 07-11-2010
Dung lượng: 5.8 MB
Số lượt tải: 226
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Cảnh Hưng
Ngày gửi: 20h:59' 07-11-2010
Dung lượng: 5.8 MB
Số lượt tải: 226
Số lượt thích:
0 người
LIÊN BANG NGA
Diện tích: 17,1 triệu km2
Dân số: 143 triệu người (năm 2005)
Thủ đô: Mát-xcơ-va
GDP/người: 2140USD/người
I.Vị trí địa lí và lãnh thổ
? Dựa vào h8.1 em hãy cho biết LBN có vị trí ở đâu? Nêu đặc điểm của diện tích lanh thổ LBN?
? Dựa vào bản đồ em hãy đọc tên 14 nước láng giềng với LBN? Kể 1 số biển và đại dương bao quanh LBN
MỘT SỐ HÌNH VỀ ĐẤT NƯỚC NGA
Matcova thủ đô của Nga
Quốc huy - quốc kỳ
II. Điều kiện tự nhiên
? Dựa vào bản đồ và nội dung trong
SGK em có nhận xét gì về
địa hình của LBN?
Thủy văn
5. Sinh vật
Vùng đài nguyên và rừng đài nguyên: diện tích gần 3.000.000 km2, khí hậu lạnh, ẩm, giai đoạn sinh trưởng của cây trồng ngắn ( 30-60 ngày ). Thực vật chỉ có cây bụi, rêu, địa y,. Phần lớn lãnh thổ quanh năm sương mù và bão tuyết không thuận lợi cho phát triển kinh tế và sinh sống cho con người. Ở đây chỉ phát triển ngành chăn nuôi, săn bắn tuần lộc, các loại thú có lông quí, gấu trắng, hải cẩu.
Hình ảnh về sinh vật
Gấu xám là một biểu tượng của Nga.
Hổ Amur là vùng Viễn Đông Nga
R?ng taiga
Vùng rừng taiga: chiếm hon 50% diện tích nước Nga với gần 10.000.000 km2. khí hậu ẩm, giai đoạn sinh trưởng của thực vật 80-140 ngày. Sinh khối thực vật 70-85 tạ/ha. Rừng cây lá nhọn chiếm ưu thế với các loài cây lạc diệp, tùng, bá hương, thông đuôi ngựa, linh sam, thông và rừng hổn hợp. Đất nông nghiệp chiếm 20-40% diện tích, nhưng cần được cải tạo ( thủy lợi và phân bón ). Động vật có tuần lộc, gậm nhấm và thú có lông quí.
Tuần lộc
Vùng thảo nguyên và thảo nguyên rừng: khí hậu ẩm, giai đoạn sinh trưởng của thực vật 100-200 ngày. Cây cỏ chiếm ưu thế, sinh khối 90 tạ/ha/năm, thuận lợi để phát triển chăn nuôi.
Vùng núi cao: núi Xibia và Viễn đông chủ yếu là rừng lá nhọn. Những chổ trũng thấp giữa núi sử dụng để trồng trọt, sườn núi trồng cây thức ăn gia súc theo mùa phục vụ chăn nuôi.
6. Tài nguyên khoáng sản
Nga là nước giàu có về tài nguyên khống sản (trở lượng và số lượng: nhiên liệu, năng lượng thuỷ diện, quặng kim loại và phi kim loại, rộng, đất nông nghiệp..) - một trong những nước đứng đầu thế giới.
Năng lượng - nhiên liệu có vai trị quang trởng hàng đầu Gồm: than đá (trở lượng 7.000 tỉ tấn ), dầu (trở lượng 60 tỉ tấn ), kim loại màu, kim loại đen, vàng, kim cương, niken, boxit trữ lượng lớn. Diện tích rừng 747.000.000 ha, trữ lượng gỗ 80 tỉ m3. Tiềm năng thủy điện 400.000.000 kw có khả năng sản xuất hàng ngàn tỉ Kwh điện hàng năm ( sông Lêna đứng đầu)
Tài nguyên đất nông nghiệp: quỹ đất 2,2 tỉ ha, 227.000.000 ha đất trồng trọt, 373.500.000 ha đồng cỏ.
Tài nguyên dưới nước khá phong phú: cá và các hải sản, riêng vùng biển phía đông chiếm tới 1/4 sản lượng, Nga có ngành công nghiệp đánh bắt, chế biến hải sản phát triển mạnh.
Việc săn bắn thú có lông quí đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Hàng năm có thế cung cấp từ hàng trăm bộ lông thú quí hiếm - 1 trong những nước hàng đầu thế giới.
Phân bố: phần lớn tài nguyên khoáng sản nằm ở vùng Ðông Xibia: than, Fe, Au, kim cương, rừng. Tây Xibia: dầu mỏ, khí tự nhiên. Dãy Uran: than, sắt, kim loại màu. Vùng Đông Âu ít khoáng sản, nhưng có khả năng phát triển nông nghiệp và các ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp đòi hỏi hàm lượng khoa học cao.
Tất cả các nguồn tài nguyên trên là cơ sở thuận lợi để phát triển các ngành công nghiệp năng lượng, luyện kim, hóa chất, chế tạo máy, chế biến gỗ.
II.ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI
1. Dân cư- xã hội
a. Dân cư
Hiện nay dân số của nga đứng thứ sáu trên thế giới ( sau Trung Quốc, Ấn Độ, Hoa Kỳ, Inđônêxia, Braxin) .Nga có tỉ lê gia tăng dân số thấp gần đây dân số có xu hướng giảm . năm 1996 là 0.05% ; năm 2008 là -0,474 % . số dân của Nga tăng chậm 1969 là 117,5 triệu người , năm 1997 130,1 trĩệu người , năm ; năm 1990 là là 150 triệu người, năm 1996 là 147,7 triệu ngừoi , năm 2008 là 140 triệu ngừoi . Ngoài ra còn có 25 triệu ngừoi Nga sống ở nứoc cộng hòa thuộc Liên Xô cũ và 2triệu Nga kiều sống trên thế giới
Như vậy từ 1996 đến năm 2008 dân số giảm đi 9,141 triệu người do tỉ lệ sinh giảm và di cư ra nước ngoài đặc biệt là đội ngũ cán bộ khoa học kỷ thuật. Theo Tạp chí chính trị của Trung Quốc , tháng 11/2003 “ Trong 10 năm chuyển đổi vừa qua , Nga mất 800.000 nhân viên khoa học . Trong đó có hơn 200.000 cán bộ kỹ thuật đầu ngành sang thị trường Tây Âu . Hiện số nhân viên khoa học của Nga chiếm 1/10 của thế giới nhưng các sản phẩm KHKT cao của nước này chỉ chiếm 1% của thế giới “. Đây là một khó khăn cho quá trình công nghiệp hóa và phát triển kinh tế của nước Nga
Dân số Nga đang bị già hóa đi , tỷ lệ ngừời trong 14 tuồi chiếm 14,6% dân số, tỷ lệ ngừơi già cao điều này khó khăn cho phát triển kinh tế
Tỷ lệ dân số có sự chênh lệch giữa nam va nữ , nữ nhiều hơn nam tới 16% những năm sau chiến tranh ; hiện nay tỷ lệ nam và nu là 0,86% năm 2008. mật độ dân số` trung bình cùa nga khá thấp ,năm 2004 là 8,4 người/km2 . nam8 2008 la2 8.24 ngừoi/km2 . cac trung tâm thanh phố Maxcova , thành phố vệ tinh có nơi tới 200-300ngừoi/km2. dân số ở miền bắc và miền đông khoảng 1triêu ngừoi/km2 . dận lớn dân cư sinh sống dọc theo tuyến đừong sắt
Về lao động : năm 2008 nứoc Nga có khoảng 74.1 triệu lao động , chiếm 47% dân số . cơ cấuu lao động của nứoc Nga năm 2007 trong công nghiệp là 2808%, dịch vụ là 60.45, nông nghiệp là 10.8% . tỷ lệ lao dộng trong ngành dịch vụ của Nga thấp so với các nuớc công nghiệp phát triển . điểm mạnh lao động có trình độ khoa học kỷ thuật cao , giá nhân công rẻ , năm 1995 chỉ bằng 20% giá nhân công của Đức
Do giàu có về tài nguyên , có các chiến lược , đừong lối phát triển kinh tế xã hội đúng đắn kinh tế` tăng trửong mạnh nên tỷ lệ thất nghiêp5 ở Nga từ năm 2000 đến nay giảm nhiều . tỷ lệ lao động ở Nga khá cao , năm 2003 là 8.5% 2004 là 7.6% , năm 2007 là 6.1% , Nga có tỷ lệ dân thành thị tăng nhanh và cao so với năm 1917 là 17% , tư62 năm 2004-2008 là 75% Nga quan tâm phát triển thành phố trung bình và nhỏ
b. Thành phần dân tộc:
Thành phần dân tộc, ngôn ngữ: Nga là một nứơc đa sắc tộc với nhiều thành phẩn dân tộc co khoảng 160 nhóm sắc tộc và người bản xứ khác nhau trong 160 nhóm sắc tộc của Nga sử dụng khoảng 100 ngôn ngữ. Theo cuộc điều tra dân số năm 2002, 142.6 triệu người nói tiếng Nga, tiếp sau là tiếng Tatar với 5.3 triệu và tiếng Ukraina với 1.8 triệu. Tiếng Nga là ngôn ngữ chính thức duy nhất của nhà nước, nhưng Hiến pháp trao cho các nước cộng hoà riêng biệt quyền đưa ngôn ngữ bản địa của mình trở thành ngôn ngữ đồng chính thức bên cạnh tiếng Nga. Dù có sự phân tán mạnh, tiếng Nga là thuần nhất trên toàn bộ nước Nga. Tiếng Nga là ngôn ngữ được sử dụng nhiều nhất nếu tính theo diện tích địa lý trên lục địa A ÂU và cũng là ngôn ngữ Slavơ được sử dụng nhiều nhất.
b. Tôn giáo
Thiên chúa giáo, Hồi giáo, Phật giáo, và Do Thái giáo là các tôn giáo truyền thống của Nga, được cho là một phần của "di sản lịch sử" Nga trong một điều luật được thông qua năm 1997. Những con số ước tính về các tín đồ rất khác biệt tuỳ theo các nguồn, và một số báo cáo đưa ra số người vô thần ở Nga là 16–48% dân số.Chính thống giáo Nga là tôn giáo thống trị ở Nga.95% xứ đạo có đăng ký Chính thống thuộc Nhà thờ Chính thống giáo Nga trong khi có một số Nhà thờ Chính thống nhỏ hơn .Tuy nhiên, đại đa số tín đồ Chính thống không thường xuyên tới nhà thờ. Tuy thế, nhà thờ được các tín đồ và người vô thần kính trọng coi nó là một biểu tượng của di sản và văn hoá Nga. Các phái Thiên chúa giáo nhỏ hơn như Cơ đốc giáo La Mã, Armenia Gregorians, và nhiều phái Tin Lành có tồn tại.
Tổ tiên của nhiều người Nga hiện nay đã chấp nhận Thiên chúa giáo Chính thống ở thế kỷ thứ 10. Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế năm 2007 do Bộ ngoại giao Mỹ xuất bản đã nói rằng có xấp xỉ 100 triệu công dân coi họ là tín đồ Nhà thờ Chính thống Nga. Theo một cuộc điều tra của Trung tâm Nghiên cứu Ý kiến Công chúng Nga, 63% người tham gia coi họ là tín đồ Chính thống Nga, 6% tự coi mình là tín đồ Hồi giáo và chưa tới 1% coi mình là tín đồ hoặc của Phật giáo, Cơ đốc giáo, Tin lành hay Do Thái giáo. 12% khác nói họ tin vào Chúa, nhưng không thực hiện bất kỳ tôn giáo nào và 16% nói họ là người vô thần.
Ước tính Nga là nơi sinh sống của khoảng 15–20 triệu tín đồ Hồi giáo Tuy nhiên học giả hồi giáo và nhà hoạt động nhân quyền Roman Silantyev đã tuyên bố rằng chỉ có 7 tới 9 triệu người theo Hồi giáo ở Nga. Nga cũng có ước tính 3 tới 4 triệu người nhập cư Hồi giáo từ các nước cộng hoà hậu Liên xô. Đa số tín đồ Hồi giáo sống ở vùng Volga-Ural, cũng như Bắc Caucasus, Moscow ,Saint Petersburg và Tây Siberia. Phật giáo là truyền thống của ba vùng thuộc Liên bang Nga: Buryatia, Tuva, và Kalmykia Một số người sống ở Siberi và vùng Viễn Đông, Yakutia, Chukotka.. thực hiện các nghi thức shamanist pantheistic, và pagan, cùng với các tôn giáo chính. Việc tham gia tôn giáo chủ yếu theo sắc tộc. Đại đa số người Slav theo Thiên chúa giáo Chính thống. Những người nói tiếng Turkic chủ yếu là tín đồ Hồi giáo, dù một số nhóm Turkic tại Nga không theo.
Thánh đường Christ the Saviour
c. Giáo duc
Nga có trình độ học vấn khá cao có một hệ thống giáo dục bắt buộc và miễn phí từ 7-17 tuổi đảm bảo cho mọi công dân theo hiến pháp và có tỷ lệ người biết chữ 99.4%. Đầu vào cao học có tính cạnh tranh rất cao. Như một kết một hệ thống giáo dục miễn phí đảm bảo cho mọi công dân theo hiến pháp và có tỷ lệ biết chữ 99.4%. Đầu vào cao học có tính cạnh tranh rất cao. Như một kết quả của sự ưu tiên hàng đầu cho khoa học và kỹ thuật trong giáo dục, y tế, toán học, khoa học và khoa học vũ trụ Nga nói chung có mức độ phát triển cao.
Trước năm 1990 quá trình học tập ở Liên xô dài 10 năm. Nhưng vào cuối năm 1990 thời gian học 11 năm đã được chính thức áp dụng. Giáo dục tại các trường cấp hai của nhà nước là miễn phí; giáo dục đầu cấp ba (mức đại học) cũng là miễn phí với việc dành trước: một phần lớn sinh viên được tuyển được bao cấp hoàn toàn. Năm 2004 chi tiêu quốc gia dành cho giáo dục chiếm 3.6% GDP, hay 13% tổng ngân sách nhà nướcChính phủ bố trí các khoản tiền để trả học phí theo một hạn mức được lập sẵn, hay số lượng sinh viên cho mỗi trường của nhà nước. Điều này được coi là cơ bản bởi nó cung cấp cơ hội tiếp cận cao học cho các sinh viên có khả năng. Ngoài ra, các sinh viên được trả một khoản học bổng nhỏ và được cung cấp nơi ở miễn phí. Ngoài các cơ sở giáo dục cao học của nhà nước, nhiều cơ sở tư nhân cũng đã xuất hiện và cung cấp lực lượng nhân lực chất lượng cao cho các lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ mới và kinh tế.
Đại học Quốc gia Moscow.
d. Y tế
Hiến pháp Nga đảm bảo chăm sóc y tế phổ thông, miễn phí cho mọi công dân.Tuy nhiên, trên thực tế chăm sóc sức khoẻ miễn phí bị giới hạn một phần bởi chế độ propiska.. Nga có số cơ sở y tế, bệnh viện và nhân viên y tế lớn hơn hầu hết các quốc gia khác khi tính theo đầu người từ khi Liên xô sụp đổ sức khoẻ dân chúng Nga đã suy giảm nghiêm trọng vì những thay đổi kinh tế, xã hội và phong cách sống. Ở thời điểm năm 2007, tuổi thọ trung bình tại Nga là 61.5 năm cho nam và 73.9 năm cho nữ.Tổng mức tuổi thọ trung bình của người Nga là 67.7 khi sinh, kém 10.8 năm so với con số tổng thể của cả Liên minh châu Âu..
Yếu tố lớn nhất dẫn tới mức tuổi thọ khá thấp của nam là tỷ lệ tử cao trong nam giới thuộc tầng lớp lao động vì những nguyên nhân có thể ngăn chặn (như, nhiễm độc rượu, stress, tai nạn giao thông, tội ác bạo lực). Tỷ lệ tử trong nam giới Nga đã tăng 60% từ năm 1991, cao hơn bốn lần của châu Âu. Vì có sự khác biệt lớn giữa tuổi thọ của nam và nữ và bởi hiệu ứng còn lại từ Thế chiến II, theo đó Nga có số thiệ hại nhân mạng cao hơn bất kỳ nước nào trên thế giới, sự mất cân bằng giới tính vẫn còn lại tới ngày này và có 0.859 trên một nữ
Trong một nỗ lực nhằm cứu vãn cuộc khủng hoảng nhân khẩu tại Nga, chính phủ hiện đang áp dụng một số chương trình được thiết kế để gia tăng tỷ lệ sinh thu hút thêm nhiều người nhập cư. Chính phủ đã tăng gấp đôi khoản trợ cấp hàng tháng cho trẻ em và cấp khoản chi một lần 250,000 Rubles (khoảng US$10,000) cho phụ nữ sinh đứa con thứ hai từ năm 2007.Năm 2007, Nga có tỷ lệ sinh lớn nhất từ khi Liên xô tan rã. Phó thủ tướng thứ nhất cũng đã nói khoảng 20 tỷ Ruble (khoảng US$1 triệu) sẽ được đầu tư vào các trung tâm chăm sóc tiền sinh sản tại Nga trong năm 2008–2009. Nhập cư ngày càng được coi là cần thiết để duy trì mức độ dân số quốc gia.
e. Văn hóa. Khoa học kỷ thuật
Về văn hóa khoa học có thể nói là một cuờng quốc về văn hóa và khoa học kỷ thuật . nga có rất nhiều công trình kiến trúc như quần thể cung điện mùa đông , cung điện kremly, viện bảo tang erơmi tadơ … những tác phẩm văn học đồ sộ : chiến tranh và hòa bình, sông đông êm đềm…) những tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng như: mùa thu vàng , các công trình khoa học lớn có giá trị với nhiều nghệ sĩ bác học thiên tài đã vượt tầm cỡ của người Nga , trở thành những nhà bác học lớn của thế giới như:Lômônôxôp, međêleev phát minh ra bảng tuần hoàn cá nguyên tố hóa học, Alexander popov là một trong những người phát minh ra radio, nikolai Basov và Alexander Prokhorov là hai người đồng phát` minh ra tia laser và maser ….những truờng đại học danh tiếng như trừờng Đại học tổng hợp quốc gia mang tên M.V Lômônôxôp, Học viện quan hệ quốc tế, trường năng lựong , học viện Traicôpski…
Tru?ng D?i h?c T?ng h?p
Qu?c gia Belgorod
Tru?ng d?i h?c t?ng h?p Qu?c gia Lơ- mơ-nơ-x?p
Các công nghệ khác, gồm công nghệ hạt nhân, sản xuất máy bay và công nghệ quốc phòng. Việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên cùng các lò phản ứng hạt nhân đầu tiên cho tàu ngầm và tàu hoạt động trên mặt nước nằm dưới sự chỉ đạo của Igor Kurchatov.
Các thành tựu lớn nhất của Nga thuộc lĩnh vực công nghệ vũ trụ và thám hiểm vũ trụ, nga là nuớc đầu tiên đưa ngừoi lên vũ trụ . Kontantin Tsiolkovsky là cha đẻ của lý thuyết hang không vũ trụ .Các phẩm của ông đã tạo cảm hứng cho những kỷ sư tên lửa hang đầu của Liên Xô như : sergey Krolyov, valentin Glushko và nhiều nguời khác đóng góp vào sự thành công của Chương trình Vũ Trụ Liên Xô ở những giai đoạn đầu của những cuộc chạy đua vào không gian năm 1957 vệ tinh nhân tạo đầu tiên bay quanh trái đất, Spunik 1, được phóng lên ; năm 1961 ngày 12/4 chuyến bay đầu tiên của loài nguời vào vũ trụ đã được Yuri Gagarin thực hiện thành cộng và nhiều người Nga khác khác đã thực hiện kỷ lục thám hiểm vũ trụ. Hiện nay Nga là nước phóng vệ tinh lớn nhất và cũng là nước duy nhất cung cấp các dịch vụ du lịch vũ trụ
bài 8: Liên bang nga Tiết 1: tự nhiên, dân cư và xã hội
- Giáo viên: Lê Phương Linh -
TÀU VŨ TRỤ CỦA NGA
TÀU VŨ TRỤ CỦA NGA
bài 8: Liên bang nga Tiết 1: tự nhiên, dân cư và xã hội
- Giáo viên: Lê Phương Linh -
KOVALENOK
YURI GAGARIN
Soyuz TMA-2 đang được chuyển tới bệ phóng, mang theo phi đoàn thường trực đầu tiên lên Trạm Vũ trụ Quốc tế
Sukhoi Superjet 100 là máy bay dân dụng mới nhất của ngành công nghiệp máy bay Nga.
2. Về chính trị:
Theo hiến pháp, được thông qua trong cuộc trưng cầu dân ý ngày 12 tháng 12 năm 1993 sau cuộc khủng hoảng hiến pháp Nga năm 1993, Nga là một liên bang và theo chính thức là một nền cộng hoà ban tông thống, theo đó Tổng thống là nguyên thủ quốc gia và Thủ tướng là lãnh đạo chính phủ. LIên bang Nga được cơ cấu theo nền tảng một chế độ dân chủ đại diện. Quyền hành pháp thuộc chính phủ. Quyền lập pháp thuộc hai viện của Quốc hội Liên bang. Chính phủ được điều chỉnh bằng một hệ thống kiểm tra và cân bằng được định nghĩa trong Hiến pháp Liên bang Nga, là tài liệu pháp lý tối cao của đất nước và social contract cho người dân Liên bang Nga. Chính phủ Liên bang gồm ba nhánh :
Lập pháp: Quốc hội Liên bang lưỡng viện, gồm Duma Quốc gia và Hội đồng Liên bang thông qua luật liên bang, tuyên chiến, thông qua các hiệp ước, có quyền phê duyệt ngân sách, và có quyền buộc tội, theo đó có thể phế truất Tổng thống.
Hành pháp: Tổng thống là tổng tư lệnh quân đội, có thể phủ quyết dự luật trước khi nó có hiệu lực, và chỉ định Nội các và các quan chức khác, những người giám sát và thực hiện các điều luật và chính sách liên bang.
Tư pháp: Toà án Hiến pháp, Toà án Tối cao, Toà án Trọng tài và các toà án liên bang cấp thấp hơn, với các thẩm phán do Hội đồng Liên bang chỉ định theo sự giới thiệu của tổng thống, giải thích pháp luật và có thể bác bỏ các điều luật mà họ cho là vi hiến.
Theo hiến pháp, phán quyết tại toà dựa trên tính bình đẳng của mọi công dân, các thẩm phán là độc lập và chỉ làm theo pháp luậtcác phiên toà được mở và người bên bị được quyền có luật sư bào chữa. Từ năm 1996, Nga đã quy định đình hoãn hình phạt tử hình, dù hình phạt tử hình chưa bị pháp luật bãi bỏ.
Tổng thống được bầu theo phổ thông đầu phiếu với nhiệm kỳ sáu năm (được tham gia tranh cử nhiệm kỳ hai nhưng bị hiến pháp cấm cầm quyền ba nhiệm kỳ liên tiếpcuộc bầu cử gần nhất được tổ chức năm 2008. Các bộ của chính pủ gồm thủ tướng và các phó thủ tướng, bộ trưởng và các cá nhân được lựa chọn khác; tất cả đều do tổng thống chỉ định theo sự giới thiệu của Thủ tướng (tuy nhiên việc chỉ định thủ tướng phải được Duma Quốc gia thông qua).
Nhánh lập pháp quốc gia là Quốc hội Liên bang, gồm hai viện; Duma Quốc gia với 450 thành viên và Hội đồng Liên bang 176 thành viên. Các đảng chính trị lớn của Nga gồm Nước Nga Thống nhất, Đảng Cộng sản, Đảng Dân chủ Tự do Nga, và Nước Nga Tươi đẹp.
Thượng viện Kremlin, một phần của Kremlin Moscow và nơi làm việc của Tổng thống Nga.
Nhà Trắng, trụ sở Chính phủ Nga
III.TỔNG QUAN NỀN KINH TẾ
Nền kinh tế trước Cách mạng tháng Mười (1917)
Nga bước vào con đường phát triển TBCN muộn hơn các nước phương Tây khác. nề kinh tế lạc hậu, nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo, kĩ thuật canh tác lạc hậu.
-Năm 1913, nông dân chiếm 83% dân số nhưng nông nghiệp chỉ chiếm 7.9% tổng giá trị sản phẩm công-nông nghiệp.
-công nghiệp nặng phát triển còn hạn chế, chủ yếu là khai thác mỏ.công nghiệp nhẹ chiếm hơn 50% giá trị sản lượng công nghiệp.
-hệ thống giao thông lạc hậu, kinh tế và giao thông tập trung chủ yếu ở miền Tây.
CM tháng Mười 1917
1991
Hiện nay
Trước CM
2. nền kinh tế sau Cách mạng tháng Mười đến năm 1991
-Cách mạng tháng Mười thành công có ảnh hưởng sâu sắc tới sự phát triển kinh tế-xã hội lẫn chính trị của nước Nga:
-năm 1941 Đức xâm chiếm Liên Xô. Trong trận chiến này Liên Xô đã chiến thắng song bị thiệt hại nhiều về kinh tế và người.
-sau khi chiến tranh kết thúc, Liên Xô tiến hành phục hồi và phát triển kinh tế , quan tâm phát triển công nghiệp nặng, phát triển kết cấu hạ tầng, đẩy mạnh khai thác tièm năng của miền Đông, phát triển sản xuất công nghiệp và nông nghiệp, KHKT được đẩy mạnh và có những bước phát triển mới.
-đến thập niên 70 của thế kỉ XX, Liên Xô chiếm 20% giá trị sản lượng công nghiệp có sản lượng cao nhất nhì thế giới (trong đó có sự đóng góp đáng kể của Nga)
-từ thập niên 70 thế kỉ XX nề kinh tế có dấu hiệu trì trệ và khủng hoảng một phần do khủng hoảng dầu mỏ thế giới, một phần do chậm đổi mới về tổ chức và công nghệ đến những năm 90 thế kỉ XX thì tình hình càng trở nên xấu và nghiêm trọng hơn.
3 nền kinh tế từ năm 1991 đến nay
-năm 1991 Nga và các nước công hoa khác tách khỏi Liên Xô. Nga được hưởng ¾ diện tích lãnh thổ và phần lớn tài nguyên, két cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật, sức mạnh KHKT của Liên Xô. Bên cạnh đó Nga phải nhận những khó khăn của Liên Xô cũ để lại như: kinh tế suy thoái, lạm phát , an ninh xã hội không ổn định,mức sống người dân thấp, nợ nước ngoài, nhập khẩu nhiều hàng tiêu dùng.
-Chính phủ Nga kiên trì thực hiện các đường lối cải cách theo 3 hướng chủ yếu là:”tự do hoá kinh tế, tư nhân hoá, hạn chế tối đa vai trò của nhà nước”. chủ trương xây dựng bộ máy nhà nước làm việc hiệu quả,tăng quyền tự chủ kinh tế cho các địa phương, các doanh nhiệp, chống tham nhũng và tội phạm có tổ chức , tăng cường sức mạnh của Nga trên trường quốc tế. với những quyết tâm như vậy Nga đã đạt được các kết quả:
+Kinh tế Nga đã đi vào trong giai đoạn phát triển nhanh, GDP tăng trưởng trung bình 6,8% trên năm trong giai đoạn 1999-2004 trên cơ sở của giá dầu mỏ cao, đồng rúp yếu, và tăng trưởng của các ngành công nghiệp và dịch vụ. Nhưng sự phát triển kinh tế này là không đều: khu vực thủ đô Moskva cung cấp tới 30% GDP của toàn quốc.
+Sự phục hồi kinh tế này cùng với cố gắng cải tổ của chính quyền trong các năm 2000-2001 đã làm tăng sự tin cậy của các nhà kinh doanh và đầu tư về triển vọng của nền kinh tế.
- Năm 2004, GDP của Nga đạt 1.500 tỷ USD làm cho Nga trở thành nền kinh tế lớn thứ 11 trên thế giới và thứ 5 ở châu Âu. Nếu mức tăng trưởng hiện tại là ổn định, dự kiến Nga sẽ trở thành nền kinh tế lớn thứ hai ở châu Âu sau Đức (2.300 tỷ USD) và là thứ 8 trên thế giới trong vài năm tới.
Bảng: tốc độ tăng trưởng kinh tế và tỉ lệ lạm phát năm 2005 (%) của Nga
Nga vẫn dựa chủ yếu vào xuất khẩu hàng hóa, cụ thể là dầu mỏ, khí đốt, kim loại và gỗ, các mặt hàng này chiếm trên 80% kim ngạch xuất khẩu, điều này làm cho Nga dễ bị thương tổn vì các biến động giá cả trên thị trường quốc tế. Trong những năm gần đây, nền kinh tế Nga đã nhắm nhiều hơn vào nhu cầu về các mặt hàng tiêu dùng trong nước, là lĩnh vực có mức tăng trưởng trên 12% mỗi năm trong giai đoạn 2000-2004, chỉ ra sự lớn mạnh dần lên của thị trường nội địa
+ nợ nhà nước đã giảm từ 146.4% GDP vào đầu năm 1999 xuống còn 33% GDP vào đầu năm 2004.
+ nợ nước ngoài năm 1999 là gần 90% GDP (158.4 tỉ USD) đến năm 2003 con số này giảm còn 26%(119 tỉ USD)
+ dự trữ vàng và ngoại tệ tăng trong những năm gần đây: năm 1999 (12.4 tỉ USD) năm 2004 (84tỉ USD), đén năm 2007 là 476.4 tỉ USD.
+ tỉ lệ nợ công giảm nhiều trong nhũng năm gần đây, năm 2007 chỉ còn 5.9%, ở mức thấp nhất so với các nước phát triển.
+ mức lạm phat giảm dần: năm 1997 là 47.8%, năm 2003 là 12%, năm 2007 chỉ còn 7.5 – 8.5%. là điều kiện thuận lợi tạo niềm tin và thu hút các nhà đầu tư.những năm gần đây lượng vốn FDI mà Nga tiếp nhận liên tục tăng
Năm 1996 tổng số vốn đầu tư nước ngoài vào Nga chỉ mới đạt 10.7 tỉ USD thì đến cuối tháng 9/2003 đã lên tới 53.6 tỉ USD cao hơn 43.7% so với cùng kì năm 2002.
Tính đến năm 2007 con số này đã lên đến 271.6 tỉ USD gấp 44.52 lần tổng FDI năm 1996.
Trong những năm gần đây lượng vốn đưa vào Nga cao hơn lượng vốn các công ty Nga đầu tư ra nước ngoài.năm 2000, lượng vốn đầu tư ra nước ngoài là 28.4 tỉ USD, đến năm 2003 chỉ còn 2.9 tỉ USD.
Năm 2007 tổng FDI ra nước ngoài của Nga thấp hơn FDI vào trong nước là 62 tỉ USD.
+ Từ năm 1999 đến năm 2006, GDP bình quân đầu người của Nga đã tăng từ 1.334 USD lên 6.879 USD, tăng tới 515% trong vòng 7 năm.
+Cơ cấu GDP năm 2007 là : nông nghiệp chiếm 4.5%, công nghiệp 39.5%, dịch vụ 56%.
+Nhưng nền kinh tế của nước Nga tăng trưởng âm 7,9% trong năm 2009 so với năm trước đó ( theo Cơ quan Thống kê Liên bang ) .Nguyên nhân chính cho sự sụt giảm là việc Nga phụ thuộc quá lớn vào những nguyên vật liệu thô, chủ yếu là dầu thô và khí đốt; cũng như nước này đi vay quá nhiều trước khi bão kinh tế xảy ra. Tuy nhiên, nền kinh tế của nước Nga có thể sẽ tăng trưởng trở lại trong năm 2010.
IV.CÁC NGÀNH KINH TẾ.
1.CÔNG NGHIỆP
Nền công nghiệp Liên Bang Nga có cơ sở nguyên liệu vững chắc.Trong thời kì trước đây thuộc Liên Xô cũng như hiện nay,giá trị sản xuất công nghiệp của Nga luôn chiếm tỉ trọng cao trong GDP.Những năm gần đây do tiến hành hiện đại hóa công nghiệp nên ngành này đóng góp trong tỉ trọng GDP có xu hướng tăng và đạt mức tăng trưởng cao,nhưng sử dụng lao động có xu hướng giảm:năm 2003 đóng góp 34,2% GDP đến năm 2007 đóng góp 39,1% GDP.Năm 2001 công nghiệp sử dụng 42% nguồn lao động,Nam 2005 công nghiệp chỉ sử dụng 28,8% nguồn lao động
Trong cơ cấu các ngành công nghiệp,công nghiệp chiếm ¾ giá trị công nghiệp.Các ngành công nguyên liệu năng lượng,công nghiệp thép,sản xuất thiết bị điện,máy công cụ ,máy nông nghiệp và máy bay dân dụng,hóa chất sản xuất vũ khí có vai trò quan trọng.Công nghiệp nhẹ và công nghiệp thực phẩm cũng được phát triển nhưng hạn chế.
Trong thập kỉ 90 của thế kỉ XX,do khủng hoảng kinh tế chính trị,sản xuất công nghiệp gặp nhiều khó khăn như: thiếu nguồn nguyên liệu,thiết bị máy móc,công nghệ lạc hậu,thiếu kinh nghiệm quản lí,sản phẩm chất lượng kém không phù hợp với thị hiếu,khả năng cạnh tranh trên thị trường kém.Do vây,tháng 1/1996 so với tháng 1/1990 giá trị sản lượng các ngành công nghiệp giảm 52,7%,tronmg đó tỷ lệ giảm các ngành sản xuất nguyên vật liệu,năng lượng là 34%,công nghiệp thực phẩm là 59%,luyện kim đen là 45%,chế tạo máy là 64%,công nghiệp nhẹ là 87%,chế biến gỗ và giấy là 66%.
Từ năm 1997 trở lại đây,các ngành công nghiệp của Liên Bang Nga vẫn gặp nhiều khó khăn,song đã có những bước phát triển mới.Nga đã thực hiện được “Chương trình cải tổ và tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1997-2000”.Kết quả mức tăng trưởng sản xuất công nghiệp năm 1997 là 1,5% và năm 2001 là 5,2%,năm 2003 là 6,9%,năm 2007 là 7,9%.
khủng hoảng kinh tế năm 2008 đã làm cho nền công nghiệp NGa giảm mạnh.Theo Itar Tass ngày 21/8, Cơ quan thống kê Nga cho biết, 7 tháng đầu năm 2008, công nghiệp của Nga chỉ tăng 5,4% so với mức tăng cùng kỳ năm 2007 là 7,6%.
Liên Bang Nga có nguồn tài nguyên thuận lợi để phát triển công nghiệp sản xuất năng lượng và nhiên liệu.
Công nghiệp than: sản lượng khai thác có xu hướng giảm,với sản lượng trung bình năm hiện nay là 300 triệu tấn;Cu dơ net,Pechoki,Nam Iakutxko,ngoại ô Matcova là những nơi có mỏ than lớn nhất nước Nga.
Công nghiệp dầu lửa: Dầu lửa chiếm 42% các cân năng lượng của Nga,hơn 50% sản lượng khai thác và chế biến hằng năm dành cho xuất khẩu.Nền công nghiệp dầu lửa của Nga được thường xuyên quan tâm phát triển.Hiện nay,Nga là nước có sản lượng xuất khẩu dầu mỏ lớn thứ hai thế giới sau Arap Xeut.Sản lượng năm 2001 là 335,06 triệu tấn;tháng 11/2004 Nga sản xuất 9,2 triệu thùng/ngày,chiếm 11,3% tổng sản lượng dầu của thế giới;năm 2004 sản lượng dầu lửa đạt 458,7 triệu tấn..Năm 2007,nước Nga sản xuất 9,87 triệu thùng/ngày( tiêu thụ 2,916 triệu thùng /ngày, xuất khẩu 5,08 triệu thùng/ngày,nhập khẩu 100.000thung/ngày) và dữ trữ khoảng 60 tỷ thùng/năm.Dầu lửa của Nga tập trung ở vùng Uran và Tây Xibia(2/3 sản lượng).Ngoài ra khai thác dầu lửa còn phân bố ở các nước cộng hòa Tataria,Ba xơ kia
Bên cạnh dầu mỏ việc khai thác khí đốt cũng được quan tâm phát triển ở Tây Xibia.Năm 2007 Nga sản xuất 656,2 tỷ m3 gas tự nhiên( tiêu thụ 610 tỷ m3,xuất khẩu 182 tỷ m3,nhập khẩu 47,57 tỷ m3,dữ trữ 47,57 nghìn tỷ m3).
Khai thác dầu mỏ ở Nga. Ảnh:AFP
Xuất khẩu dầu tháng 9 năm 2009 của Nga lên đến 20,41 triệu tấn, hay 149,41 triệu thùng. Như vậy, Nga xuất khẩu 4,99 triệu thùng dầu/ngày đêm, chiếm 49,85% toàn bộ lượng khai thác ngày đêm tại quốc gia này. So với tháng 9/2008, con số này tăng 6,1%, hay 1,18 triệu tấn (8,66 triệu thùng).
Mặc dù có sự gia tăng về sản lượng dầu mỏ, sản xuất các sản phẩm dầu ở Nga lại giảm. Tháng 9/2009, sản xuất xăng sụt giảm 1% so với cùng kỳ năm 2008 và chiếm 2,93 triệu tấn. Sản xuất nhiên liệu điêzen giảm 1,2%, nhiên liệu dành cho các hãng hàng không giảm 15,9%. Lượng sản xuất các sản phẩm dầu mỏ này đạt 5,52 và 0,72 triệu tấn tương ứng.
Nga là nhà cung cấp dầu mỏ và khí tự nhiên lớn của châu Âu
Các nguồn nhiên liệu dồi dào là cơ sở thuận lợi để phát triển công nghiệp nhiệt điện của Liên Bang Nga,sản lượng điện không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu.Nhiệt điện chiếm 70% sản lượng nhiệt năng của nước này.Các nhà máy nhiệt điện lớn ( công suất trên 2 triệu kWh) phân bố ở khu công nghiệp Trung Ương,Uran,Capcad, Pavonde,Tây Xibia
Nước Nga có tiềm năng lớn về thủy điện,các nhà máy thủy điện có công suất lớn được xây dựng bên các sông Anggara(Iacut),Bratxco,bên sông Ê ni Xây,Cubsep,Vôn ga,………điều có công suất từ 2,5 đến 5 triệu kWh.Từ năm 1954,nước Nga đã xây dựng nhà máy điện nguyên tử có công suất lớn đặt tại thành phố Cuôc x cơ,Vô rô ne giơ .Ngoài ra còn có một số nhà máy điện nguyên tử khác đặt ở một số địa phương trong nước.
Hầu hết các nhà máy điện của Nga đều được xây dựng vào năm 1990,công nghệ đã lạc hậu .Sản lượng điện của Nga năm 2007 đạt 1000 tỷ kWh (tiêu thụ 985,5 tỷ kWh,xuất khẩu 18 tỷ kWh,nhập khẩu 5,08 tỷ kWh).
Ngày 17-8, nhà máy thủy điện lớn nhất ở Nga Sayano-Shushinskaya (TP Krasnoyarsk, vùng Siberia) đã bị nổ. Vụ nổ này đã ảnh hưởng đến các ngành công nghiệp khác của NGa
Sau vụ nổ nhà máy thủy điện Sayano-Shushenskaya, các cơ quan ban ngành Nga đã tiến hành sửa chữa tất cả các đập thủy điện. Họ đã lên kế hoạch tìm kiếm những lỗ hổng để tránh những tai nạn tương tự xảy ra trong tương lai. Nhưng trong các thiết bị thủy điện của Nga, 80% đã bị lỗi thời lạc hậu. Bước đầu tiên trong kế hoạch hiện đại hóa ngành điện của Nga đã bắt đầu, đến trước năm 2020, các nhà đầu tư tư nhân đã cam kết đầu tư 400 tỷ USD, nhưng hiện viễn cảnh kinh tế đã ảnh hưởng nặng nề đến kế hoạch này.
Hình ảnh nhà máy thủy điện Sayano-Shushinskaya ở phía nam vùng Siberia trên truyền hình Nga. Ảnh: AP.
sau vụ nổ
Quang cảnh một nhà máy điện nguyên tử
Ngành công nghiệp luyện kim là ngành lâu đời nhất ở Nga, nhưng 80% các trang thiết bị đều đã lão hóa. Vì vậy, trong những năm gần đây, ngành công nghiệp luyện kim của Nga đã có những thay đổi nhanh chóng. Cùng với giá kim loại tăng cao, các công ty phương Tây cũng yêu cầu Nga phải nâng cao chất lượng sản phẩm. Để đáp ứng được tiêu chuẩn này, ngành công nghiệp luyện kim của Nga cần có những công nghệ mới, thiết bị mới.
Công nghiệp luyện kim đen của Nga đã có từ lâu đời,hoạt đọng của ngành này dựa vài nguyên liệu ở trong nước.Các cơ sở luyện kim đen của Nga phân bố ở Cu dơ bat( Tây Xibia),ở các thành phố vùng Uran ( chiếm 1/5 sản lượng gang thép của Cả nước) và vùng Trung tâm.
Hiện nay ,Liên Bang Nga sản xuất từ 55-60 triệu tấn thép,đứng thứ tư trên thế giới ( sau Trung Quốc,Nhật Bản,Mỹ ).
Công nghiệp chế tạo máy có vị trí quan trọng đặc biệt trong nền kinh tế và tạo ra sức mạnh của nước Nga.Cơ cấu ngành công nghiệp chế tạo máy có nhiều sản phẩm nổi tiếng và có uy tín như: tàu vũ trụ,vệ tinh,tên lửa, máy bay chiến đấu,máy bay dân dụng,động cơ,thiết bị điện,máy công cụ,máy kéo…………..Công nghiệp sản xuất ô tô ,các phương tiện vận tải khác,các thiết bị và máy điện tử tuy được chú trọng phát triển,song công nghệ còn lạc hậu,số lượng sản phẩm chưa nhiều.Theo đều tra của Bộ Khoa Học Công Nghệ Nga,năm 2001 khối lượng sản xuất ngành chế tạo máy của Nga đạt 30,96 tỷ USD,vượt 8,5% so với năm 2000.
Sản xuất vũ khí chiến tranh là ngành công nghiệp phát triển từ lâu,có vị thế trên thế giới.Năm 2001,Nga xuất khẩu vũ khí đạt giá trị trên 4 tỷ USD và hiện nay Nga đang có quan hệ hợp tác quân sự với 67 quốc gia ,trong đó bạn hàng lớn nhất ,chiếm 1/3 tổng kim ngạch xuất khẩu của Nga là Ấn Độ.
Mat cơ Va,Xanh Pê tec pua,Tula,Xaratop,Vôn gagrat,Cuôc x cơ………..là những thành phố tập trung nhiều nhà máy chế tạo vũ khí của Nga.
Công nghiệp hóa chất phát triển theo hướng đẩy mạnh xây dựng các cơ sở lọc dầu,các nhà máy sản xuất phân bón và dược phẩm.Năm 2001,ngành công nghiệp hóa chất và hóa dầu đạt giá trị 10,56 tỷ USD,tăng 6,6 % so với năm 2000.Các vùng phát triển hai ngành công nghiệp này là Trung tâm,Pa vôn đê,Uran,Tây Xibia.
Sản xuất vật liệu xây dựng cũng là ngành phát triển ở Nga,mõi năm sản xuất trên 60 triệu tấn xi măng.
Công nghiệp khai thác và chế biến gỗ, giữ vai trò quan trọng trong các ngành công nghiệp.Nước Nga chiếm 20% sản lượng lâm sản toàn cầu và đạt giá trị sản xuất năm 2000 là 3,3 tỷ USD,năm 2001 đạt 4,3 tỷ USD.Hiện nay khối lượng xuất khẩu gỗ và giấy của Nga chiếm 66% lượng sản xuất.
2.Nông nghiệp.
Liên Bang Nga có diện tích đất nông nghiệp khá lớn và có điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp.Nước Nga có dân số đông,có nhu cầu về lương thực phẩm lớn.Vì vậy,nông nghiệp cũng là ngành kinh tế đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế đất nước.Nhưng đóng góp tỷ trọng trong GDP và tỷ lệ lao đọng trong các ngành này có xu hướng giảm trong những năm gần đây và đạt mức tăng trưởng thấp.Năm 2004 đóng góp 5,2% GDP,sử dụng 12,3 % nguồn lao động và đạt mức tăng trưởng 2,9%;năm 2007 đóng góp 4,8% GDP và sử dụng 18,8 nguồn lao động.
Sản xuất nông nghiệp được tổ chức theo hình thức nông trại tập thể;các liên hợp nông,công nghiệp,hình thức sản xuất đó gọi tắt là APK.Nông nghiệp có mối quan hệ với ngành công nghiệp,dịch vụ,giao thông vận tải,nghiên cứu khoa học.Do quy mô lớn,các chính sách nông nghiệp không hợp lý nên các APK hiệu quả hoạt đọng còn thấp.
Liên Bang Nga đóng vai trò chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp của Liên Xô trước đây,chiếm 57,1% sản lượng lương thực,28,5 sản lượng đường và 45,1 sản lượng dầu thực vật của Liên Xô.
Ngành nông nghiệp Nga tuy có nhiều cải tổ về cơ cấu và tổ chức,nhưng còn nhiều hạn chế;máy móc,thiết bị,công nghệ lạc hậu;năng suất lao đọng thấp; thiếu vốn đầu tư; thị trường nội địa chưa được bảo vệ vững chắc;quan hệ kinh tế chưa được thay đỏi triệt để.Vì vậy,nữa đầu thập kỉ 90 của thế kỉ XX,mức tăng giá trị sản lượng nông nghiệp bị giảm sa sút ở mức âm,năm 1994 12,6%,năm 1996:5,0%.Từ năm 1997,kết quả sản xuất ngành nông nghiệp của Nga có sự khởi sắc ,song không ổn định.Năm 1997,tổng sản lượng ngũ cốc của Nga đạt 95,1 triệu tấn( đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu 5 triệu tấn).Trong năm 2001,Nga đã giảm được 13,2% khối lượng nhập khẩu các sản phẩm lương thực.
Trong sản lượng ngũ cốc,lúa mì đạt 50 triệu tấn,phân bố chủ yếu ở đòng bằng Đông Âu.và đòng bằng Tây Xibia.Nga còn trồng nhiều các cây công nghiệp như củ cải đường,lanh,hương dương,nho.Chỉ ntrong 10 tháng năm 2001,Nga đã thu hoạch 6,9 triệu tấn củ cải đường.
Ngành chăn nuôi của Nga chiếm hơn 50% giá trị sản lượng nông nghiệp.Các loại gia súc chăn nuôi chủ yếu là bò,lợn,cừu với số lượng hiện nay là 60 triệu con bò,40 triệu con lợn và 50 triệu con cừu.
Trên cánh đồng vùng Rostov
Chăn nuôi tuần lộc tại Oymyakon thuộc Liên bang Nga
3. Dịch Vụ
So với nhiều nước công nghiệp phát triển, vai trò của ngành dịch vụ ở Nga còn hạn chế, tỷ lệ lao động sử dụng còn ít. Ngành này chưa tạo được sức mạnh phát triển cho nền kinh tế Nga. Cơ cấu các ngành dịch vụ còn chưa phong phú, chủ yếu phát triển giao thông vận tải, xuất - nhập khẩu, các hoạt động khác còn hạn chế.
Những năm gần đây nhờ sản xuất phát triển, giá trị xuất nhập – khẩu tăng nhanh nên ngành này đạt được mức tăng trưởng cao. Năm 2004 đóng góp 60,7% GDP, sử dụng 65% nguồn lao động và đạt mức tăng trưởng 7,8%; Năm 2007 đóng góp 56% GDP và sử dụng 60,5% nguồn lao động.
Giao thông vận tải và thông tin liên lạc:
- Hệ thống giao thông vận tải ở Nga khá phát triển và đóng góp đáng kể vào phát triển kinh tế, văn hóa trong nước cũng như giữa Nga và các nước trên thế giới.
- Các dạng giao thông đảm bảo mối liên hệ kinh tế giữa các ngành và các vùng rộng lớn của đất nước. Liên Bang Nga đã xây dựng một hệ thống đường giao thông vận tải dày đặc, đủ các loại hình: đường hàng không, đường sắt, đường bộ, đường điện ngầm, ống dẫn dầu và khí. Matscơva là đầu mối giao thông chính. Từ đây có các tuyến đường tỏa ra các hướng. Liên Bang Nga có mạng lưới giao thông phát triển chiếm 60% tổng số hàng hóa vận chuyển của Liên Bang Xô Viết, chiếm 3/5 tổng chiều dài đường sắt, 4/5 đường sông, ¾ đường ống dẫn dầu.
+ Đường không: Ngành hàng không của Nga mang tính tự chủ và khá phát triển. Việc vận chuyển hàng hóa và hành khách trong nước giữa các thành phố do các hãng hàng không quốc gia đảm nhiệm. Hãng máy bay lớn của Nga là Aerô-flôt. Hãng này còn ký hợp đồng hàng không với nhiều nước trên thế giới, qua đó
Diện tích: 17,1 triệu km2
Dân số: 143 triệu người (năm 2005)
Thủ đô: Mát-xcơ-va
GDP/người: 2140USD/người
I.Vị trí địa lí và lãnh thổ
? Dựa vào h8.1 em hãy cho biết LBN có vị trí ở đâu? Nêu đặc điểm của diện tích lanh thổ LBN?
? Dựa vào bản đồ em hãy đọc tên 14 nước láng giềng với LBN? Kể 1 số biển và đại dương bao quanh LBN
MỘT SỐ HÌNH VỀ ĐẤT NƯỚC NGA
Matcova thủ đô của Nga
Quốc huy - quốc kỳ
II. Điều kiện tự nhiên
? Dựa vào bản đồ và nội dung trong
SGK em có nhận xét gì về
địa hình của LBN?
Thủy văn
5. Sinh vật
Vùng đài nguyên và rừng đài nguyên: diện tích gần 3.000.000 km2, khí hậu lạnh, ẩm, giai đoạn sinh trưởng của cây trồng ngắn ( 30-60 ngày ). Thực vật chỉ có cây bụi, rêu, địa y,. Phần lớn lãnh thổ quanh năm sương mù và bão tuyết không thuận lợi cho phát triển kinh tế và sinh sống cho con người. Ở đây chỉ phát triển ngành chăn nuôi, săn bắn tuần lộc, các loại thú có lông quí, gấu trắng, hải cẩu.
Hình ảnh về sinh vật
Gấu xám là một biểu tượng của Nga.
Hổ Amur là vùng Viễn Đông Nga
R?ng taiga
Vùng rừng taiga: chiếm hon 50% diện tích nước Nga với gần 10.000.000 km2. khí hậu ẩm, giai đoạn sinh trưởng của thực vật 80-140 ngày. Sinh khối thực vật 70-85 tạ/ha. Rừng cây lá nhọn chiếm ưu thế với các loài cây lạc diệp, tùng, bá hương, thông đuôi ngựa, linh sam, thông và rừng hổn hợp. Đất nông nghiệp chiếm 20-40% diện tích, nhưng cần được cải tạo ( thủy lợi và phân bón ). Động vật có tuần lộc, gậm nhấm và thú có lông quí.
Tuần lộc
Vùng thảo nguyên và thảo nguyên rừng: khí hậu ẩm, giai đoạn sinh trưởng của thực vật 100-200 ngày. Cây cỏ chiếm ưu thế, sinh khối 90 tạ/ha/năm, thuận lợi để phát triển chăn nuôi.
Vùng núi cao: núi Xibia và Viễn đông chủ yếu là rừng lá nhọn. Những chổ trũng thấp giữa núi sử dụng để trồng trọt, sườn núi trồng cây thức ăn gia súc theo mùa phục vụ chăn nuôi.
6. Tài nguyên khoáng sản
Nga là nước giàu có về tài nguyên khống sản (trở lượng và số lượng: nhiên liệu, năng lượng thuỷ diện, quặng kim loại và phi kim loại, rộng, đất nông nghiệp..) - một trong những nước đứng đầu thế giới.
Năng lượng - nhiên liệu có vai trị quang trởng hàng đầu Gồm: than đá (trở lượng 7.000 tỉ tấn ), dầu (trở lượng 60 tỉ tấn ), kim loại màu, kim loại đen, vàng, kim cương, niken, boxit trữ lượng lớn. Diện tích rừng 747.000.000 ha, trữ lượng gỗ 80 tỉ m3. Tiềm năng thủy điện 400.000.000 kw có khả năng sản xuất hàng ngàn tỉ Kwh điện hàng năm ( sông Lêna đứng đầu)
Tài nguyên đất nông nghiệp: quỹ đất 2,2 tỉ ha, 227.000.000 ha đất trồng trọt, 373.500.000 ha đồng cỏ.
Tài nguyên dưới nước khá phong phú: cá và các hải sản, riêng vùng biển phía đông chiếm tới 1/4 sản lượng, Nga có ngành công nghiệp đánh bắt, chế biến hải sản phát triển mạnh.
Việc săn bắn thú có lông quí đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Hàng năm có thế cung cấp từ hàng trăm bộ lông thú quí hiếm - 1 trong những nước hàng đầu thế giới.
Phân bố: phần lớn tài nguyên khoáng sản nằm ở vùng Ðông Xibia: than, Fe, Au, kim cương, rừng. Tây Xibia: dầu mỏ, khí tự nhiên. Dãy Uran: than, sắt, kim loại màu. Vùng Đông Âu ít khoáng sản, nhưng có khả năng phát triển nông nghiệp và các ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp đòi hỏi hàm lượng khoa học cao.
Tất cả các nguồn tài nguyên trên là cơ sở thuận lợi để phát triển các ngành công nghiệp năng lượng, luyện kim, hóa chất, chế tạo máy, chế biến gỗ.
II.ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI
1. Dân cư- xã hội
a. Dân cư
Hiện nay dân số của nga đứng thứ sáu trên thế giới ( sau Trung Quốc, Ấn Độ, Hoa Kỳ, Inđônêxia, Braxin) .Nga có tỉ lê gia tăng dân số thấp gần đây dân số có xu hướng giảm . năm 1996 là 0.05% ; năm 2008 là -0,474 % . số dân của Nga tăng chậm 1969 là 117,5 triệu người , năm 1997 130,1 trĩệu người , năm ; năm 1990 là là 150 triệu người, năm 1996 là 147,7 triệu ngừoi , năm 2008 là 140 triệu ngừoi . Ngoài ra còn có 25 triệu ngừoi Nga sống ở nứoc cộng hòa thuộc Liên Xô cũ và 2triệu Nga kiều sống trên thế giới
Như vậy từ 1996 đến năm 2008 dân số giảm đi 9,141 triệu người do tỉ lệ sinh giảm và di cư ra nước ngoài đặc biệt là đội ngũ cán bộ khoa học kỷ thuật. Theo Tạp chí chính trị của Trung Quốc , tháng 11/2003 “ Trong 10 năm chuyển đổi vừa qua , Nga mất 800.000 nhân viên khoa học . Trong đó có hơn 200.000 cán bộ kỹ thuật đầu ngành sang thị trường Tây Âu . Hiện số nhân viên khoa học của Nga chiếm 1/10 của thế giới nhưng các sản phẩm KHKT cao của nước này chỉ chiếm 1% của thế giới “. Đây là một khó khăn cho quá trình công nghiệp hóa và phát triển kinh tế của nước Nga
Dân số Nga đang bị già hóa đi , tỷ lệ ngừời trong 14 tuồi chiếm 14,6% dân số, tỷ lệ ngừơi già cao điều này khó khăn cho phát triển kinh tế
Tỷ lệ dân số có sự chênh lệch giữa nam va nữ , nữ nhiều hơn nam tới 16% những năm sau chiến tranh ; hiện nay tỷ lệ nam và nu là 0,86% năm 2008. mật độ dân số` trung bình cùa nga khá thấp ,năm 2004 là 8,4 người/km2 . nam8 2008 la2 8.24 ngừoi/km2 . cac trung tâm thanh phố Maxcova , thành phố vệ tinh có nơi tới 200-300ngừoi/km2. dân số ở miền bắc và miền đông khoảng 1triêu ngừoi/km2 . dận lớn dân cư sinh sống dọc theo tuyến đừong sắt
Về lao động : năm 2008 nứoc Nga có khoảng 74.1 triệu lao động , chiếm 47% dân số . cơ cấuu lao động của nứoc Nga năm 2007 trong công nghiệp là 2808%, dịch vụ là 60.45, nông nghiệp là 10.8% . tỷ lệ lao dộng trong ngành dịch vụ của Nga thấp so với các nuớc công nghiệp phát triển . điểm mạnh lao động có trình độ khoa học kỷ thuật cao , giá nhân công rẻ , năm 1995 chỉ bằng 20% giá nhân công của Đức
Do giàu có về tài nguyên , có các chiến lược , đừong lối phát triển kinh tế xã hội đúng đắn kinh tế` tăng trửong mạnh nên tỷ lệ thất nghiêp5 ở Nga từ năm 2000 đến nay giảm nhiều . tỷ lệ lao động ở Nga khá cao , năm 2003 là 8.5% 2004 là 7.6% , năm 2007 là 6.1% , Nga có tỷ lệ dân thành thị tăng nhanh và cao so với năm 1917 là 17% , tư62 năm 2004-2008 là 75% Nga quan tâm phát triển thành phố trung bình và nhỏ
b. Thành phần dân tộc:
Thành phần dân tộc, ngôn ngữ: Nga là một nứơc đa sắc tộc với nhiều thành phẩn dân tộc co khoảng 160 nhóm sắc tộc và người bản xứ khác nhau trong 160 nhóm sắc tộc của Nga sử dụng khoảng 100 ngôn ngữ. Theo cuộc điều tra dân số năm 2002, 142.6 triệu người nói tiếng Nga, tiếp sau là tiếng Tatar với 5.3 triệu và tiếng Ukraina với 1.8 triệu. Tiếng Nga là ngôn ngữ chính thức duy nhất của nhà nước, nhưng Hiến pháp trao cho các nước cộng hoà riêng biệt quyền đưa ngôn ngữ bản địa của mình trở thành ngôn ngữ đồng chính thức bên cạnh tiếng Nga. Dù có sự phân tán mạnh, tiếng Nga là thuần nhất trên toàn bộ nước Nga. Tiếng Nga là ngôn ngữ được sử dụng nhiều nhất nếu tính theo diện tích địa lý trên lục địa A ÂU và cũng là ngôn ngữ Slavơ được sử dụng nhiều nhất.
b. Tôn giáo
Thiên chúa giáo, Hồi giáo, Phật giáo, và Do Thái giáo là các tôn giáo truyền thống của Nga, được cho là một phần của "di sản lịch sử" Nga trong một điều luật được thông qua năm 1997. Những con số ước tính về các tín đồ rất khác biệt tuỳ theo các nguồn, và một số báo cáo đưa ra số người vô thần ở Nga là 16–48% dân số.Chính thống giáo Nga là tôn giáo thống trị ở Nga.95% xứ đạo có đăng ký Chính thống thuộc Nhà thờ Chính thống giáo Nga trong khi có một số Nhà thờ Chính thống nhỏ hơn .Tuy nhiên, đại đa số tín đồ Chính thống không thường xuyên tới nhà thờ. Tuy thế, nhà thờ được các tín đồ và người vô thần kính trọng coi nó là một biểu tượng của di sản và văn hoá Nga. Các phái Thiên chúa giáo nhỏ hơn như Cơ đốc giáo La Mã, Armenia Gregorians, và nhiều phái Tin Lành có tồn tại.
Tổ tiên của nhiều người Nga hiện nay đã chấp nhận Thiên chúa giáo Chính thống ở thế kỷ thứ 10. Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế năm 2007 do Bộ ngoại giao Mỹ xuất bản đã nói rằng có xấp xỉ 100 triệu công dân coi họ là tín đồ Nhà thờ Chính thống Nga. Theo một cuộc điều tra của Trung tâm Nghiên cứu Ý kiến Công chúng Nga, 63% người tham gia coi họ là tín đồ Chính thống Nga, 6% tự coi mình là tín đồ Hồi giáo và chưa tới 1% coi mình là tín đồ hoặc của Phật giáo, Cơ đốc giáo, Tin lành hay Do Thái giáo. 12% khác nói họ tin vào Chúa, nhưng không thực hiện bất kỳ tôn giáo nào và 16% nói họ là người vô thần.
Ước tính Nga là nơi sinh sống của khoảng 15–20 triệu tín đồ Hồi giáo Tuy nhiên học giả hồi giáo và nhà hoạt động nhân quyền Roman Silantyev đã tuyên bố rằng chỉ có 7 tới 9 triệu người theo Hồi giáo ở Nga. Nga cũng có ước tính 3 tới 4 triệu người nhập cư Hồi giáo từ các nước cộng hoà hậu Liên xô. Đa số tín đồ Hồi giáo sống ở vùng Volga-Ural, cũng như Bắc Caucasus, Moscow ,Saint Petersburg và Tây Siberia. Phật giáo là truyền thống của ba vùng thuộc Liên bang Nga: Buryatia, Tuva, và Kalmykia Một số người sống ở Siberi và vùng Viễn Đông, Yakutia, Chukotka.. thực hiện các nghi thức shamanist pantheistic, và pagan, cùng với các tôn giáo chính. Việc tham gia tôn giáo chủ yếu theo sắc tộc. Đại đa số người Slav theo Thiên chúa giáo Chính thống. Những người nói tiếng Turkic chủ yếu là tín đồ Hồi giáo, dù một số nhóm Turkic tại Nga không theo.
Thánh đường Christ the Saviour
c. Giáo duc
Nga có trình độ học vấn khá cao có một hệ thống giáo dục bắt buộc và miễn phí từ 7-17 tuổi đảm bảo cho mọi công dân theo hiến pháp và có tỷ lệ người biết chữ 99.4%. Đầu vào cao học có tính cạnh tranh rất cao. Như một kết một hệ thống giáo dục miễn phí đảm bảo cho mọi công dân theo hiến pháp và có tỷ lệ biết chữ 99.4%. Đầu vào cao học có tính cạnh tranh rất cao. Như một kết quả của sự ưu tiên hàng đầu cho khoa học và kỹ thuật trong giáo dục, y tế, toán học, khoa học và khoa học vũ trụ Nga nói chung có mức độ phát triển cao.
Trước năm 1990 quá trình học tập ở Liên xô dài 10 năm. Nhưng vào cuối năm 1990 thời gian học 11 năm đã được chính thức áp dụng. Giáo dục tại các trường cấp hai của nhà nước là miễn phí; giáo dục đầu cấp ba (mức đại học) cũng là miễn phí với việc dành trước: một phần lớn sinh viên được tuyển được bao cấp hoàn toàn. Năm 2004 chi tiêu quốc gia dành cho giáo dục chiếm 3.6% GDP, hay 13% tổng ngân sách nhà nướcChính phủ bố trí các khoản tiền để trả học phí theo một hạn mức được lập sẵn, hay số lượng sinh viên cho mỗi trường của nhà nước. Điều này được coi là cơ bản bởi nó cung cấp cơ hội tiếp cận cao học cho các sinh viên có khả năng. Ngoài ra, các sinh viên được trả một khoản học bổng nhỏ và được cung cấp nơi ở miễn phí. Ngoài các cơ sở giáo dục cao học của nhà nước, nhiều cơ sở tư nhân cũng đã xuất hiện và cung cấp lực lượng nhân lực chất lượng cao cho các lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ mới và kinh tế.
Đại học Quốc gia Moscow.
d. Y tế
Hiến pháp Nga đảm bảo chăm sóc y tế phổ thông, miễn phí cho mọi công dân.Tuy nhiên, trên thực tế chăm sóc sức khoẻ miễn phí bị giới hạn một phần bởi chế độ propiska.. Nga có số cơ sở y tế, bệnh viện và nhân viên y tế lớn hơn hầu hết các quốc gia khác khi tính theo đầu người từ khi Liên xô sụp đổ sức khoẻ dân chúng Nga đã suy giảm nghiêm trọng vì những thay đổi kinh tế, xã hội và phong cách sống. Ở thời điểm năm 2007, tuổi thọ trung bình tại Nga là 61.5 năm cho nam và 73.9 năm cho nữ.Tổng mức tuổi thọ trung bình của người Nga là 67.7 khi sinh, kém 10.8 năm so với con số tổng thể của cả Liên minh châu Âu..
Yếu tố lớn nhất dẫn tới mức tuổi thọ khá thấp của nam là tỷ lệ tử cao trong nam giới thuộc tầng lớp lao động vì những nguyên nhân có thể ngăn chặn (như, nhiễm độc rượu, stress, tai nạn giao thông, tội ác bạo lực). Tỷ lệ tử trong nam giới Nga đã tăng 60% từ năm 1991, cao hơn bốn lần của châu Âu. Vì có sự khác biệt lớn giữa tuổi thọ của nam và nữ và bởi hiệu ứng còn lại từ Thế chiến II, theo đó Nga có số thiệ hại nhân mạng cao hơn bất kỳ nước nào trên thế giới, sự mất cân bằng giới tính vẫn còn lại tới ngày này và có 0.859 trên một nữ
Trong một nỗ lực nhằm cứu vãn cuộc khủng hoảng nhân khẩu tại Nga, chính phủ hiện đang áp dụng một số chương trình được thiết kế để gia tăng tỷ lệ sinh thu hút thêm nhiều người nhập cư. Chính phủ đã tăng gấp đôi khoản trợ cấp hàng tháng cho trẻ em và cấp khoản chi một lần 250,000 Rubles (khoảng US$10,000) cho phụ nữ sinh đứa con thứ hai từ năm 2007.Năm 2007, Nga có tỷ lệ sinh lớn nhất từ khi Liên xô tan rã. Phó thủ tướng thứ nhất cũng đã nói khoảng 20 tỷ Ruble (khoảng US$1 triệu) sẽ được đầu tư vào các trung tâm chăm sóc tiền sinh sản tại Nga trong năm 2008–2009. Nhập cư ngày càng được coi là cần thiết để duy trì mức độ dân số quốc gia.
e. Văn hóa. Khoa học kỷ thuật
Về văn hóa khoa học có thể nói là một cuờng quốc về văn hóa và khoa học kỷ thuật . nga có rất nhiều công trình kiến trúc như quần thể cung điện mùa đông , cung điện kremly, viện bảo tang erơmi tadơ … những tác phẩm văn học đồ sộ : chiến tranh và hòa bình, sông đông êm đềm…) những tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng như: mùa thu vàng , các công trình khoa học lớn có giá trị với nhiều nghệ sĩ bác học thiên tài đã vượt tầm cỡ của người Nga , trở thành những nhà bác học lớn của thế giới như:Lômônôxôp, međêleev phát minh ra bảng tuần hoàn cá nguyên tố hóa học, Alexander popov là một trong những người phát minh ra radio, nikolai Basov và Alexander Prokhorov là hai người đồng phát` minh ra tia laser và maser ….những truờng đại học danh tiếng như trừờng Đại học tổng hợp quốc gia mang tên M.V Lômônôxôp, Học viện quan hệ quốc tế, trường năng lựong , học viện Traicôpski…
Tru?ng D?i h?c T?ng h?p
Qu?c gia Belgorod
Tru?ng d?i h?c t?ng h?p Qu?c gia Lơ- mơ-nơ-x?p
Các công nghệ khác, gồm công nghệ hạt nhân, sản xuất máy bay và công nghệ quốc phòng. Việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên cùng các lò phản ứng hạt nhân đầu tiên cho tàu ngầm và tàu hoạt động trên mặt nước nằm dưới sự chỉ đạo của Igor Kurchatov.
Các thành tựu lớn nhất của Nga thuộc lĩnh vực công nghệ vũ trụ và thám hiểm vũ trụ, nga là nuớc đầu tiên đưa ngừoi lên vũ trụ . Kontantin Tsiolkovsky là cha đẻ của lý thuyết hang không vũ trụ .Các phẩm của ông đã tạo cảm hứng cho những kỷ sư tên lửa hang đầu của Liên Xô như : sergey Krolyov, valentin Glushko và nhiều nguời khác đóng góp vào sự thành công của Chương trình Vũ Trụ Liên Xô ở những giai đoạn đầu của những cuộc chạy đua vào không gian năm 1957 vệ tinh nhân tạo đầu tiên bay quanh trái đất, Spunik 1, được phóng lên ; năm 1961 ngày 12/4 chuyến bay đầu tiên của loài nguời vào vũ trụ đã được Yuri Gagarin thực hiện thành cộng và nhiều người Nga khác khác đã thực hiện kỷ lục thám hiểm vũ trụ. Hiện nay Nga là nước phóng vệ tinh lớn nhất và cũng là nước duy nhất cung cấp các dịch vụ du lịch vũ trụ
bài 8: Liên bang nga Tiết 1: tự nhiên, dân cư và xã hội
- Giáo viên: Lê Phương Linh -
TÀU VŨ TRỤ CỦA NGA
TÀU VŨ TRỤ CỦA NGA
bài 8: Liên bang nga Tiết 1: tự nhiên, dân cư và xã hội
- Giáo viên: Lê Phương Linh -
KOVALENOK
YURI GAGARIN
Soyuz TMA-2 đang được chuyển tới bệ phóng, mang theo phi đoàn thường trực đầu tiên lên Trạm Vũ trụ Quốc tế
Sukhoi Superjet 100 là máy bay dân dụng mới nhất của ngành công nghiệp máy bay Nga.
2. Về chính trị:
Theo hiến pháp, được thông qua trong cuộc trưng cầu dân ý ngày 12 tháng 12 năm 1993 sau cuộc khủng hoảng hiến pháp Nga năm 1993, Nga là một liên bang và theo chính thức là một nền cộng hoà ban tông thống, theo đó Tổng thống là nguyên thủ quốc gia và Thủ tướng là lãnh đạo chính phủ. LIên bang Nga được cơ cấu theo nền tảng một chế độ dân chủ đại diện. Quyền hành pháp thuộc chính phủ. Quyền lập pháp thuộc hai viện của Quốc hội Liên bang. Chính phủ được điều chỉnh bằng một hệ thống kiểm tra và cân bằng được định nghĩa trong Hiến pháp Liên bang Nga, là tài liệu pháp lý tối cao của đất nước và social contract cho người dân Liên bang Nga. Chính phủ Liên bang gồm ba nhánh :
Lập pháp: Quốc hội Liên bang lưỡng viện, gồm Duma Quốc gia và Hội đồng Liên bang thông qua luật liên bang, tuyên chiến, thông qua các hiệp ước, có quyền phê duyệt ngân sách, và có quyền buộc tội, theo đó có thể phế truất Tổng thống.
Hành pháp: Tổng thống là tổng tư lệnh quân đội, có thể phủ quyết dự luật trước khi nó có hiệu lực, và chỉ định Nội các và các quan chức khác, những người giám sát và thực hiện các điều luật và chính sách liên bang.
Tư pháp: Toà án Hiến pháp, Toà án Tối cao, Toà án Trọng tài và các toà án liên bang cấp thấp hơn, với các thẩm phán do Hội đồng Liên bang chỉ định theo sự giới thiệu của tổng thống, giải thích pháp luật và có thể bác bỏ các điều luật mà họ cho là vi hiến.
Theo hiến pháp, phán quyết tại toà dựa trên tính bình đẳng của mọi công dân, các thẩm phán là độc lập và chỉ làm theo pháp luậtcác phiên toà được mở và người bên bị được quyền có luật sư bào chữa. Từ năm 1996, Nga đã quy định đình hoãn hình phạt tử hình, dù hình phạt tử hình chưa bị pháp luật bãi bỏ.
Tổng thống được bầu theo phổ thông đầu phiếu với nhiệm kỳ sáu năm (được tham gia tranh cử nhiệm kỳ hai nhưng bị hiến pháp cấm cầm quyền ba nhiệm kỳ liên tiếpcuộc bầu cử gần nhất được tổ chức năm 2008. Các bộ của chính pủ gồm thủ tướng và các phó thủ tướng, bộ trưởng và các cá nhân được lựa chọn khác; tất cả đều do tổng thống chỉ định theo sự giới thiệu của Thủ tướng (tuy nhiên việc chỉ định thủ tướng phải được Duma Quốc gia thông qua).
Nhánh lập pháp quốc gia là Quốc hội Liên bang, gồm hai viện; Duma Quốc gia với 450 thành viên và Hội đồng Liên bang 176 thành viên. Các đảng chính trị lớn của Nga gồm Nước Nga Thống nhất, Đảng Cộng sản, Đảng Dân chủ Tự do Nga, và Nước Nga Tươi đẹp.
Thượng viện Kremlin, một phần của Kremlin Moscow và nơi làm việc của Tổng thống Nga.
Nhà Trắng, trụ sở Chính phủ Nga
III.TỔNG QUAN NỀN KINH TẾ
Nền kinh tế trước Cách mạng tháng Mười (1917)
Nga bước vào con đường phát triển TBCN muộn hơn các nước phương Tây khác. nề kinh tế lạc hậu, nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo, kĩ thuật canh tác lạc hậu.
-Năm 1913, nông dân chiếm 83% dân số nhưng nông nghiệp chỉ chiếm 7.9% tổng giá trị sản phẩm công-nông nghiệp.
-công nghiệp nặng phát triển còn hạn chế, chủ yếu là khai thác mỏ.công nghiệp nhẹ chiếm hơn 50% giá trị sản lượng công nghiệp.
-hệ thống giao thông lạc hậu, kinh tế và giao thông tập trung chủ yếu ở miền Tây.
CM tháng Mười 1917
1991
Hiện nay
Trước CM
2. nền kinh tế sau Cách mạng tháng Mười đến năm 1991
-Cách mạng tháng Mười thành công có ảnh hưởng sâu sắc tới sự phát triển kinh tế-xã hội lẫn chính trị của nước Nga:
-năm 1941 Đức xâm chiếm Liên Xô. Trong trận chiến này Liên Xô đã chiến thắng song bị thiệt hại nhiều về kinh tế và người.
-sau khi chiến tranh kết thúc, Liên Xô tiến hành phục hồi và phát triển kinh tế , quan tâm phát triển công nghiệp nặng, phát triển kết cấu hạ tầng, đẩy mạnh khai thác tièm năng của miền Đông, phát triển sản xuất công nghiệp và nông nghiệp, KHKT được đẩy mạnh và có những bước phát triển mới.
-đến thập niên 70 của thế kỉ XX, Liên Xô chiếm 20% giá trị sản lượng công nghiệp có sản lượng cao nhất nhì thế giới (trong đó có sự đóng góp đáng kể của Nga)
-từ thập niên 70 thế kỉ XX nề kinh tế có dấu hiệu trì trệ và khủng hoảng một phần do khủng hoảng dầu mỏ thế giới, một phần do chậm đổi mới về tổ chức và công nghệ đến những năm 90 thế kỉ XX thì tình hình càng trở nên xấu và nghiêm trọng hơn.
3 nền kinh tế từ năm 1991 đến nay
-năm 1991 Nga và các nước công hoa khác tách khỏi Liên Xô. Nga được hưởng ¾ diện tích lãnh thổ và phần lớn tài nguyên, két cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật, sức mạnh KHKT của Liên Xô. Bên cạnh đó Nga phải nhận những khó khăn của Liên Xô cũ để lại như: kinh tế suy thoái, lạm phát , an ninh xã hội không ổn định,mức sống người dân thấp, nợ nước ngoài, nhập khẩu nhiều hàng tiêu dùng.
-Chính phủ Nga kiên trì thực hiện các đường lối cải cách theo 3 hướng chủ yếu là:”tự do hoá kinh tế, tư nhân hoá, hạn chế tối đa vai trò của nhà nước”. chủ trương xây dựng bộ máy nhà nước làm việc hiệu quả,tăng quyền tự chủ kinh tế cho các địa phương, các doanh nhiệp, chống tham nhũng và tội phạm có tổ chức , tăng cường sức mạnh của Nga trên trường quốc tế. với những quyết tâm như vậy Nga đã đạt được các kết quả:
+Kinh tế Nga đã đi vào trong giai đoạn phát triển nhanh, GDP tăng trưởng trung bình 6,8% trên năm trong giai đoạn 1999-2004 trên cơ sở của giá dầu mỏ cao, đồng rúp yếu, và tăng trưởng của các ngành công nghiệp và dịch vụ. Nhưng sự phát triển kinh tế này là không đều: khu vực thủ đô Moskva cung cấp tới 30% GDP của toàn quốc.
+Sự phục hồi kinh tế này cùng với cố gắng cải tổ của chính quyền trong các năm 2000-2001 đã làm tăng sự tin cậy của các nhà kinh doanh và đầu tư về triển vọng của nền kinh tế.
- Năm 2004, GDP của Nga đạt 1.500 tỷ USD làm cho Nga trở thành nền kinh tế lớn thứ 11 trên thế giới và thứ 5 ở châu Âu. Nếu mức tăng trưởng hiện tại là ổn định, dự kiến Nga sẽ trở thành nền kinh tế lớn thứ hai ở châu Âu sau Đức (2.300 tỷ USD) và là thứ 8 trên thế giới trong vài năm tới.
Bảng: tốc độ tăng trưởng kinh tế và tỉ lệ lạm phát năm 2005 (%) của Nga
Nga vẫn dựa chủ yếu vào xuất khẩu hàng hóa, cụ thể là dầu mỏ, khí đốt, kim loại và gỗ, các mặt hàng này chiếm trên 80% kim ngạch xuất khẩu, điều này làm cho Nga dễ bị thương tổn vì các biến động giá cả trên thị trường quốc tế. Trong những năm gần đây, nền kinh tế Nga đã nhắm nhiều hơn vào nhu cầu về các mặt hàng tiêu dùng trong nước, là lĩnh vực có mức tăng trưởng trên 12% mỗi năm trong giai đoạn 2000-2004, chỉ ra sự lớn mạnh dần lên của thị trường nội địa
+ nợ nhà nước đã giảm từ 146.4% GDP vào đầu năm 1999 xuống còn 33% GDP vào đầu năm 2004.
+ nợ nước ngoài năm 1999 là gần 90% GDP (158.4 tỉ USD) đến năm 2003 con số này giảm còn 26%(119 tỉ USD)
+ dự trữ vàng và ngoại tệ tăng trong những năm gần đây: năm 1999 (12.4 tỉ USD) năm 2004 (84tỉ USD), đén năm 2007 là 476.4 tỉ USD.
+ tỉ lệ nợ công giảm nhiều trong nhũng năm gần đây, năm 2007 chỉ còn 5.9%, ở mức thấp nhất so với các nước phát triển.
+ mức lạm phat giảm dần: năm 1997 là 47.8%, năm 2003 là 12%, năm 2007 chỉ còn 7.5 – 8.5%. là điều kiện thuận lợi tạo niềm tin và thu hút các nhà đầu tư.những năm gần đây lượng vốn FDI mà Nga tiếp nhận liên tục tăng
Năm 1996 tổng số vốn đầu tư nước ngoài vào Nga chỉ mới đạt 10.7 tỉ USD thì đến cuối tháng 9/2003 đã lên tới 53.6 tỉ USD cao hơn 43.7% so với cùng kì năm 2002.
Tính đến năm 2007 con số này đã lên đến 271.6 tỉ USD gấp 44.52 lần tổng FDI năm 1996.
Trong những năm gần đây lượng vốn đưa vào Nga cao hơn lượng vốn các công ty Nga đầu tư ra nước ngoài.năm 2000, lượng vốn đầu tư ra nước ngoài là 28.4 tỉ USD, đến năm 2003 chỉ còn 2.9 tỉ USD.
Năm 2007 tổng FDI ra nước ngoài của Nga thấp hơn FDI vào trong nước là 62 tỉ USD.
+ Từ năm 1999 đến năm 2006, GDP bình quân đầu người của Nga đã tăng từ 1.334 USD lên 6.879 USD, tăng tới 515% trong vòng 7 năm.
+Cơ cấu GDP năm 2007 là : nông nghiệp chiếm 4.5%, công nghiệp 39.5%, dịch vụ 56%.
+Nhưng nền kinh tế của nước Nga tăng trưởng âm 7,9% trong năm 2009 so với năm trước đó ( theo Cơ quan Thống kê Liên bang ) .Nguyên nhân chính cho sự sụt giảm là việc Nga phụ thuộc quá lớn vào những nguyên vật liệu thô, chủ yếu là dầu thô và khí đốt; cũng như nước này đi vay quá nhiều trước khi bão kinh tế xảy ra. Tuy nhiên, nền kinh tế của nước Nga có thể sẽ tăng trưởng trở lại trong năm 2010.
IV.CÁC NGÀNH KINH TẾ.
1.CÔNG NGHIỆP
Nền công nghiệp Liên Bang Nga có cơ sở nguyên liệu vững chắc.Trong thời kì trước đây thuộc Liên Xô cũng như hiện nay,giá trị sản xuất công nghiệp của Nga luôn chiếm tỉ trọng cao trong GDP.Những năm gần đây do tiến hành hiện đại hóa công nghiệp nên ngành này đóng góp trong tỉ trọng GDP có xu hướng tăng và đạt mức tăng trưởng cao,nhưng sử dụng lao động có xu hướng giảm:năm 2003 đóng góp 34,2% GDP đến năm 2007 đóng góp 39,1% GDP.Năm 2001 công nghiệp sử dụng 42% nguồn lao động,Nam 2005 công nghiệp chỉ sử dụng 28,8% nguồn lao động
Trong cơ cấu các ngành công nghiệp,công nghiệp chiếm ¾ giá trị công nghiệp.Các ngành công nguyên liệu năng lượng,công nghiệp thép,sản xuất thiết bị điện,máy công cụ ,máy nông nghiệp và máy bay dân dụng,hóa chất sản xuất vũ khí có vai trò quan trọng.Công nghiệp nhẹ và công nghiệp thực phẩm cũng được phát triển nhưng hạn chế.
Trong thập kỉ 90 của thế kỉ XX,do khủng hoảng kinh tế chính trị,sản xuất công nghiệp gặp nhiều khó khăn như: thiếu nguồn nguyên liệu,thiết bị máy móc,công nghệ lạc hậu,thiếu kinh nghiệm quản lí,sản phẩm chất lượng kém không phù hợp với thị hiếu,khả năng cạnh tranh trên thị trường kém.Do vây,tháng 1/1996 so với tháng 1/1990 giá trị sản lượng các ngành công nghiệp giảm 52,7%,tronmg đó tỷ lệ giảm các ngành sản xuất nguyên vật liệu,năng lượng là 34%,công nghiệp thực phẩm là 59%,luyện kim đen là 45%,chế tạo máy là 64%,công nghiệp nhẹ là 87%,chế biến gỗ và giấy là 66%.
Từ năm 1997 trở lại đây,các ngành công nghiệp của Liên Bang Nga vẫn gặp nhiều khó khăn,song đã có những bước phát triển mới.Nga đã thực hiện được “Chương trình cải tổ và tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1997-2000”.Kết quả mức tăng trưởng sản xuất công nghiệp năm 1997 là 1,5% và năm 2001 là 5,2%,năm 2003 là 6,9%,năm 2007 là 7,9%.
khủng hoảng kinh tế năm 2008 đã làm cho nền công nghiệp NGa giảm mạnh.Theo Itar Tass ngày 21/8, Cơ quan thống kê Nga cho biết, 7 tháng đầu năm 2008, công nghiệp của Nga chỉ tăng 5,4% so với mức tăng cùng kỳ năm 2007 là 7,6%.
Liên Bang Nga có nguồn tài nguyên thuận lợi để phát triển công nghiệp sản xuất năng lượng và nhiên liệu.
Công nghiệp than: sản lượng khai thác có xu hướng giảm,với sản lượng trung bình năm hiện nay là 300 triệu tấn;Cu dơ net,Pechoki,Nam Iakutxko,ngoại ô Matcova là những nơi có mỏ than lớn nhất nước Nga.
Công nghiệp dầu lửa: Dầu lửa chiếm 42% các cân năng lượng của Nga,hơn 50% sản lượng khai thác và chế biến hằng năm dành cho xuất khẩu.Nền công nghiệp dầu lửa của Nga được thường xuyên quan tâm phát triển.Hiện nay,Nga là nước có sản lượng xuất khẩu dầu mỏ lớn thứ hai thế giới sau Arap Xeut.Sản lượng năm 2001 là 335,06 triệu tấn;tháng 11/2004 Nga sản xuất 9,2 triệu thùng/ngày,chiếm 11,3% tổng sản lượng dầu của thế giới;năm 2004 sản lượng dầu lửa đạt 458,7 triệu tấn..Năm 2007,nước Nga sản xuất 9,87 triệu thùng/ngày( tiêu thụ 2,916 triệu thùng /ngày, xuất khẩu 5,08 triệu thùng/ngày,nhập khẩu 100.000thung/ngày) và dữ trữ khoảng 60 tỷ thùng/năm.Dầu lửa của Nga tập trung ở vùng Uran và Tây Xibia(2/3 sản lượng).Ngoài ra khai thác dầu lửa còn phân bố ở các nước cộng hòa Tataria,Ba xơ kia
Bên cạnh dầu mỏ việc khai thác khí đốt cũng được quan tâm phát triển ở Tây Xibia.Năm 2007 Nga sản xuất 656,2 tỷ m3 gas tự nhiên( tiêu thụ 610 tỷ m3,xuất khẩu 182 tỷ m3,nhập khẩu 47,57 tỷ m3,dữ trữ 47,57 nghìn tỷ m3).
Khai thác dầu mỏ ở Nga. Ảnh:AFP
Xuất khẩu dầu tháng 9 năm 2009 của Nga lên đến 20,41 triệu tấn, hay 149,41 triệu thùng. Như vậy, Nga xuất khẩu 4,99 triệu thùng dầu/ngày đêm, chiếm 49,85% toàn bộ lượng khai thác ngày đêm tại quốc gia này. So với tháng 9/2008, con số này tăng 6,1%, hay 1,18 triệu tấn (8,66 triệu thùng).
Mặc dù có sự gia tăng về sản lượng dầu mỏ, sản xuất các sản phẩm dầu ở Nga lại giảm. Tháng 9/2009, sản xuất xăng sụt giảm 1% so với cùng kỳ năm 2008 và chiếm 2,93 triệu tấn. Sản xuất nhiên liệu điêzen giảm 1,2%, nhiên liệu dành cho các hãng hàng không giảm 15,9%. Lượng sản xuất các sản phẩm dầu mỏ này đạt 5,52 và 0,72 triệu tấn tương ứng.
Nga là nhà cung cấp dầu mỏ và khí tự nhiên lớn của châu Âu
Các nguồn nhiên liệu dồi dào là cơ sở thuận lợi để phát triển công nghiệp nhiệt điện của Liên Bang Nga,sản lượng điện không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu.Nhiệt điện chiếm 70% sản lượng nhiệt năng của nước này.Các nhà máy nhiệt điện lớn ( công suất trên 2 triệu kWh) phân bố ở khu công nghiệp Trung Ương,Uran,Capcad, Pavonde,Tây Xibia
Nước Nga có tiềm năng lớn về thủy điện,các nhà máy thủy điện có công suất lớn được xây dựng bên các sông Anggara(Iacut),Bratxco,bên sông Ê ni Xây,Cubsep,Vôn ga,………điều có công suất từ 2,5 đến 5 triệu kWh.Từ năm 1954,nước Nga đã xây dựng nhà máy điện nguyên tử có công suất lớn đặt tại thành phố Cuôc x cơ,Vô rô ne giơ .Ngoài ra còn có một số nhà máy điện nguyên tử khác đặt ở một số địa phương trong nước.
Hầu hết các nhà máy điện của Nga đều được xây dựng vào năm 1990,công nghệ đã lạc hậu .Sản lượng điện của Nga năm 2007 đạt 1000 tỷ kWh (tiêu thụ 985,5 tỷ kWh,xuất khẩu 18 tỷ kWh,nhập khẩu 5,08 tỷ kWh).
Ngày 17-8, nhà máy thủy điện lớn nhất ở Nga Sayano-Shushinskaya (TP Krasnoyarsk, vùng Siberia) đã bị nổ. Vụ nổ này đã ảnh hưởng đến các ngành công nghiệp khác của NGa
Sau vụ nổ nhà máy thủy điện Sayano-Shushenskaya, các cơ quan ban ngành Nga đã tiến hành sửa chữa tất cả các đập thủy điện. Họ đã lên kế hoạch tìm kiếm những lỗ hổng để tránh những tai nạn tương tự xảy ra trong tương lai. Nhưng trong các thiết bị thủy điện của Nga, 80% đã bị lỗi thời lạc hậu. Bước đầu tiên trong kế hoạch hiện đại hóa ngành điện của Nga đã bắt đầu, đến trước năm 2020, các nhà đầu tư tư nhân đã cam kết đầu tư 400 tỷ USD, nhưng hiện viễn cảnh kinh tế đã ảnh hưởng nặng nề đến kế hoạch này.
Hình ảnh nhà máy thủy điện Sayano-Shushinskaya ở phía nam vùng Siberia trên truyền hình Nga. Ảnh: AP.
sau vụ nổ
Quang cảnh một nhà máy điện nguyên tử
Ngành công nghiệp luyện kim là ngành lâu đời nhất ở Nga, nhưng 80% các trang thiết bị đều đã lão hóa. Vì vậy, trong những năm gần đây, ngành công nghiệp luyện kim của Nga đã có những thay đổi nhanh chóng. Cùng với giá kim loại tăng cao, các công ty phương Tây cũng yêu cầu Nga phải nâng cao chất lượng sản phẩm. Để đáp ứng được tiêu chuẩn này, ngành công nghiệp luyện kim của Nga cần có những công nghệ mới, thiết bị mới.
Công nghiệp luyện kim đen của Nga đã có từ lâu đời,hoạt đọng của ngành này dựa vài nguyên liệu ở trong nước.Các cơ sở luyện kim đen của Nga phân bố ở Cu dơ bat( Tây Xibia),ở các thành phố vùng Uran ( chiếm 1/5 sản lượng gang thép của Cả nước) và vùng Trung tâm.
Hiện nay ,Liên Bang Nga sản xuất từ 55-60 triệu tấn thép,đứng thứ tư trên thế giới ( sau Trung Quốc,Nhật Bản,Mỹ ).
Công nghiệp chế tạo máy có vị trí quan trọng đặc biệt trong nền kinh tế và tạo ra sức mạnh của nước Nga.Cơ cấu ngành công nghiệp chế tạo máy có nhiều sản phẩm nổi tiếng và có uy tín như: tàu vũ trụ,vệ tinh,tên lửa, máy bay chiến đấu,máy bay dân dụng,động cơ,thiết bị điện,máy công cụ,máy kéo…………..Công nghiệp sản xuất ô tô ,các phương tiện vận tải khác,các thiết bị và máy điện tử tuy được chú trọng phát triển,song công nghệ còn lạc hậu,số lượng sản phẩm chưa nhiều.Theo đều tra của Bộ Khoa Học Công Nghệ Nga,năm 2001 khối lượng sản xuất ngành chế tạo máy của Nga đạt 30,96 tỷ USD,vượt 8,5% so với năm 2000.
Sản xuất vũ khí chiến tranh là ngành công nghiệp phát triển từ lâu,có vị thế trên thế giới.Năm 2001,Nga xuất khẩu vũ khí đạt giá trị trên 4 tỷ USD và hiện nay Nga đang có quan hệ hợp tác quân sự với 67 quốc gia ,trong đó bạn hàng lớn nhất ,chiếm 1/3 tổng kim ngạch xuất khẩu của Nga là Ấn Độ.
Mat cơ Va,Xanh Pê tec pua,Tula,Xaratop,Vôn gagrat,Cuôc x cơ………..là những thành phố tập trung nhiều nhà máy chế tạo vũ khí của Nga.
Công nghiệp hóa chất phát triển theo hướng đẩy mạnh xây dựng các cơ sở lọc dầu,các nhà máy sản xuất phân bón và dược phẩm.Năm 2001,ngành công nghiệp hóa chất và hóa dầu đạt giá trị 10,56 tỷ USD,tăng 6,6 % so với năm 2000.Các vùng phát triển hai ngành công nghiệp này là Trung tâm,Pa vôn đê,Uran,Tây Xibia.
Sản xuất vật liệu xây dựng cũng là ngành phát triển ở Nga,mõi năm sản xuất trên 60 triệu tấn xi măng.
Công nghiệp khai thác và chế biến gỗ, giữ vai trò quan trọng trong các ngành công nghiệp.Nước Nga chiếm 20% sản lượng lâm sản toàn cầu và đạt giá trị sản xuất năm 2000 là 3,3 tỷ USD,năm 2001 đạt 4,3 tỷ USD.Hiện nay khối lượng xuất khẩu gỗ và giấy của Nga chiếm 66% lượng sản xuất.
2.Nông nghiệp.
Liên Bang Nga có diện tích đất nông nghiệp khá lớn và có điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp.Nước Nga có dân số đông,có nhu cầu về lương thực phẩm lớn.Vì vậy,nông nghiệp cũng là ngành kinh tế đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế đất nước.Nhưng đóng góp tỷ trọng trong GDP và tỷ lệ lao đọng trong các ngành này có xu hướng giảm trong những năm gần đây và đạt mức tăng trưởng thấp.Năm 2004 đóng góp 5,2% GDP,sử dụng 12,3 % nguồn lao động và đạt mức tăng trưởng 2,9%;năm 2007 đóng góp 4,8% GDP và sử dụng 18,8 nguồn lao động.
Sản xuất nông nghiệp được tổ chức theo hình thức nông trại tập thể;các liên hợp nông,công nghiệp,hình thức sản xuất đó gọi tắt là APK.Nông nghiệp có mối quan hệ với ngành công nghiệp,dịch vụ,giao thông vận tải,nghiên cứu khoa học.Do quy mô lớn,các chính sách nông nghiệp không hợp lý nên các APK hiệu quả hoạt đọng còn thấp.
Liên Bang Nga đóng vai trò chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp của Liên Xô trước đây,chiếm 57,1% sản lượng lương thực,28,5 sản lượng đường và 45,1 sản lượng dầu thực vật của Liên Xô.
Ngành nông nghiệp Nga tuy có nhiều cải tổ về cơ cấu và tổ chức,nhưng còn nhiều hạn chế;máy móc,thiết bị,công nghệ lạc hậu;năng suất lao đọng thấp; thiếu vốn đầu tư; thị trường nội địa chưa được bảo vệ vững chắc;quan hệ kinh tế chưa được thay đỏi triệt để.Vì vậy,nữa đầu thập kỉ 90 của thế kỉ XX,mức tăng giá trị sản lượng nông nghiệp bị giảm sa sút ở mức âm,năm 1994 12,6%,năm 1996:5,0%.Từ năm 1997,kết quả sản xuất ngành nông nghiệp của Nga có sự khởi sắc ,song không ổn định.Năm 1997,tổng sản lượng ngũ cốc của Nga đạt 95,1 triệu tấn( đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu 5 triệu tấn).Trong năm 2001,Nga đã giảm được 13,2% khối lượng nhập khẩu các sản phẩm lương thực.
Trong sản lượng ngũ cốc,lúa mì đạt 50 triệu tấn,phân bố chủ yếu ở đòng bằng Đông Âu.và đòng bằng Tây Xibia.Nga còn trồng nhiều các cây công nghiệp như củ cải đường,lanh,hương dương,nho.Chỉ ntrong 10 tháng năm 2001,Nga đã thu hoạch 6,9 triệu tấn củ cải đường.
Ngành chăn nuôi của Nga chiếm hơn 50% giá trị sản lượng nông nghiệp.Các loại gia súc chăn nuôi chủ yếu là bò,lợn,cừu với số lượng hiện nay là 60 triệu con bò,40 triệu con lợn và 50 triệu con cừu.
Trên cánh đồng vùng Rostov
Chăn nuôi tuần lộc tại Oymyakon thuộc Liên bang Nga
3. Dịch Vụ
So với nhiều nước công nghiệp phát triển, vai trò của ngành dịch vụ ở Nga còn hạn chế, tỷ lệ lao động sử dụng còn ít. Ngành này chưa tạo được sức mạnh phát triển cho nền kinh tế Nga. Cơ cấu các ngành dịch vụ còn chưa phong phú, chủ yếu phát triển giao thông vận tải, xuất - nhập khẩu, các hoạt động khác còn hạn chế.
Những năm gần đây nhờ sản xuất phát triển, giá trị xuất nhập – khẩu tăng nhanh nên ngành này đạt được mức tăng trưởng cao. Năm 2004 đóng góp 60,7% GDP, sử dụng 65% nguồn lao động và đạt mức tăng trưởng 7,8%; Năm 2007 đóng góp 56% GDP và sử dụng 60,5% nguồn lao động.
Giao thông vận tải và thông tin liên lạc:
- Hệ thống giao thông vận tải ở Nga khá phát triển và đóng góp đáng kể vào phát triển kinh tế, văn hóa trong nước cũng như giữa Nga và các nước trên thế giới.
- Các dạng giao thông đảm bảo mối liên hệ kinh tế giữa các ngành và các vùng rộng lớn của đất nước. Liên Bang Nga đã xây dựng một hệ thống đường giao thông vận tải dày đặc, đủ các loại hình: đường hàng không, đường sắt, đường bộ, đường điện ngầm, ống dẫn dầu và khí. Matscơva là đầu mối giao thông chính. Từ đây có các tuyến đường tỏa ra các hướng. Liên Bang Nga có mạng lưới giao thông phát triển chiếm 60% tổng số hàng hóa vận chuyển của Liên Bang Xô Viết, chiếm 3/5 tổng chiều dài đường sắt, 4/5 đường sông, ¾ đường ống dẫn dầu.
+ Đường không: Ngành hàng không của Nga mang tính tự chủ và khá phát triển. Việc vận chuyển hàng hóa và hành khách trong nước giữa các thành phố do các hãng hàng không quốc gia đảm nhiệm. Hãng máy bay lớn của Nga là Aerô-flôt. Hãng này còn ký hợp đồng hàng không với nhiều nước trên thế giới, qua đó
 
Những ca khúc hát về thầy cô
Những ca khúc hay về thầy cô và mái trường�
1. Nhớ ơn thầy cô
�
2.Liên khúc nhớ ơn thầy cô
4. Thầy tôi
5. Ơn thầy, thầy của chúng em�
�






Các ý kiến mới nhất